Cốt tủy của cải lương và ngọn đuốc vì nhân sinh
cốt tủy của cải lương

“Cốt tuỷ” của cải lương?

Toàn bộ nội dung bài đọc:

Muốn tìm hiểu sâu sắc về chủ đề này, trước tiên chúng ta cần gợi mở một số điểm nhìn mang tính so sánh khái quát để tự trả lời câu hỏi: Nghệ thuật cải lương “đặc biệt” và khác biệt hơn các loại hình nghệ thuật khác ở chỗ nào?

Nếu đặt lên bàn cân một cách sòng phẳng:

  • Về diễn xuất, cải lương khó lòng chân thực và vi mô bằng điện ảnh.
  • Về kịch tính và lời thoại, chúng ta không thể chuyên thục như kịch nói.
  • Về sự kết hợp bộ pháp, hình thể và thần thái ước lệ, chúng ta thua xa kinh kịch.
  • Về võ thuật biểu diễn, những bậc võ học chính tông có thể xem bộ vũ của chúng ta là những động tác mô phỏng chưa tới.
  • Về kỹ thuật múa, các nghệ sĩ múa chuyên nghiệp cũng dễ nhìn nhận phần múa cải lương như một sự phụ trợ mang tính ước lệ giản đơn.

Vậy bài toán đặt ra ở đây là gì? Cái gì đã tạo nên sự khác biệt cốt lõi để loại hình nghệ thuật này luôn sống, luôn chảy và neo chặt trong lòng người mộ điệu suốt hơn một thế kỷ qua? Nếu người làm nghề không tỉnh thức, sa đà vào việc pha trộn quá nhiều yếu tố ngoại lai theo “sở trường” cá nhân, cải lương sẽ dần biến chất thành một bộ môn “tạp kỹ – chắp vá”. Điều đó chính là một sự đắc tội lớn đối với các bậc tiền nhân.

“Mỏ vàng” ca diễn trên nền nhạc cổ đặc trưng

Cái nét đặc trưng đi vào lòng người, trở thành “khuôn vàng thước ngọc” để các thế hệ sau lượm lặt, đúc kết thành lý thuyết đưa vào học đường giảng dạy chính là: “Ca trong diễn trên nền nhạc cổ đặc trưng – thần thái của người diễn đồng nhất với nhân vật”, hay trong nghề thường gọi là sự nhập tâm.

Một câu thoại, một lời ca, một tiếng khảy đờn nhẹ của nhạc công, hay một cử chỉ nhỏ của nhân vật… nếu tất cả đều được phát xuất từ sự thẩm thấu nội tâm sâu sắc, tác phẩm đó tự khắc trở thành kinh điển. Khán giả thực thụ đôi khi không cần xem quá nhiều điệu bộ; họ chỉ cần nghe một câu ca, một lời thoại kết hợp với tiếng nhấn vuốt thâm sâu của nhạc sĩ là đã có thể tự kích hoạt một trí tưởng tượng đa chiều, tự vẽ nên cả một không gian đầy hình ảnh và cảm xúc. Điều này ví như khi xem một bộ phim điện ảnh kinh dị, đôi khi ta chỉ cần thấy một nhạc nền u uất, một ánh mắt bất động kèm hành động lạ của nhân vật là đã đủ ám ảnh, đeo bám tâm trí mãi ngay cả khi đã quay về với cuộc sống thực.

Để chạm đến ngưỡng thượng tầng ấy, điều kiện tiên quyết vẫn nằm ở kim chỉ nam: “Nghệ thuật vì nhân sinh” với sự hội tụ chặt chẽ của ba nhân duyên:

  • Tác giả và tác phẩm để đời: Nhìn nhận khách quan qua các vở tuồng kinh điển như Tiếng trống Mê Linh, Đời cô Lựu, Nửa đời Hương Phấn, Tô Ánh Nguyệt… chúng ta sẽ thấy một điểm chung: Tác giả đều là những bậc tri thức uyên bác, am hiểu tường tận phong hóa nhân sinh từ đời sống thực, đồng thời thấu suốt hệ thống bài bản tài tử để đặt để từng giai điệu chuẩn xác vào ngữ cảnh. Đặc biệt, họ sở hữu một sự chính trực khách quan; dù biết rõ tác phẩm khi ra đời có thể gặp phải sự trù dập của các thế lực phe cánh đương thời, họ vẫn dấn thân vì một nền nghệ thuật vị nhân sinh.
  • Đạo diễn dàn dựng đồng điệu tư tưởng: Vốn liếng của người đạo diễn không chỉ dừng ở tri thức lịch sử, văn hóa mà họ phải là người bạn tri kỷ của tác giả. Khi đọc tác phẩm, họ thấu suốt yếu chỉ, biết phải lấy điểm cảm xúc của khán giả ở đâu. Họ là nhà sáng tạo thực thụ, biết “đo ni đóng giày”, chọn đúng người nghệ sĩ có khả năng cảm thụ nội tâm tốt nhất và chọn đúng người nhạc sĩ có tiếng đờn đủ sức khơi mào cảm xúc tột độ.
  • Nghệ sĩ biểu diễn: Người nghệ sĩ cần có nền tảng văn hóa, có trải nghiệm đời sống thực và một tư duy độc lập để nghiền ngẫm, phán xét tác phẩm theo thế giới quan của riêng mình. Chính sự nuôi dưỡng nội tâm từ bên trong ấy, khi kết hợp với không gian, thời gian và tiếng đờn thâm sâu của nhạc công, sẽ giúp người nghệ sĩ dễ dàng đồng nhất bản thể: “Mình chính là nhân vật trong tác phẩm”.

Lịch sử đã chứng minh, đây cũng là thời điểm sản sinh ra các bậc tài danh với những giọng ca hay lạ, những phong cách diễn khác biệt. Nhờ sự nghiền ngẫm tự thân kết hợp với vốn sống từng trải và tư duy độc lập, họ đã kiến tạo nên những phong cách ca – diễn hoàn toàn độc bản. Khi các nhân duyên trên “đồng thanh tương ứng” một cách nghiêm túc và chặt chẽ, chúng sẽ chiêu cảm được một luồng năng lượng đặc biệt bao trùm lấy thánh đường sân khấu, và một tác phẩm kinh điển sẽ là kết quả xuất hiện mang tính tất yếu.

Đâu là một giọng ca hay?

Nhìn lại những giọng ca huyền thoại của thế hệ đi trước, điểm chung lớn nhất của họ chính là tính “độc bản” – độ hiếm lạ và độc nhất của dải âm. Tuy nhiên, mỗi thời kỳ mỗi khác; sự bùng nổ của truyền thông ngày nay giúp việc tiếp cận, nghe tham khảo trở nên quá dễ dàng, dẫn đến việc người đi sau thiếu đi khoảng lặng thời gian để tự nghiên cứu, từ đó có xu hướng biến mình thành bản sao của những người đi trước.

Tập hợp lại từ thực tế chuyên môn, một giọng ca hay thực thụ phải hội đủ các yếu tố then chốt:

  • Có độ hiếm tự thân của làn hơi, chất giọng (giọng lạ, giọng riêng…).
  • Ca chuẩn dây đờn (dây đào, dây kép). Đặc biệt, nếu là nam nghệ sĩ ca chuẩn dây xề kép (dây hò nhì hoặc tông La) thì đó là một điểm khác biệt đẳng cấp (điều này người trong nghề rất rõ, dẫu số đông khán giả có thể chưa phân biệt được).
  • Phát âm chuẩn xác, tròn vành rõ chữ.
  • Ca đúng khuôn nhịp, rồi từ sự chuẩn mực đó tiến lên làm chủ nhịp nhàng để thoát khuôn nhịp (lơi, đảo nhịp, nhịp nối…) mà không mất trường canh.
  • Độ dày, mỏng của giọng ca phải đầy đặn (âm sắc/chất giọng nội lực), dù lên cao hay xuống thấp nhờ cột hơi vững vàng mà vẫn rõ chữ, không bể, không mờ.
  • Có tư duy sáng tạo, tự nghiên cứu tuồng tích để đưa cái hiểu, cái trải nghiệm của tự thân vào bài ca.
  • Đỉnh cao của một giọng ca hay: Biết đặt hồn mình vào đúng tính chất bài bản mà tác giả gửi gắm. Khi gặp một bài ca vui tươi hào sảng của ngày độc lập mà lại ca mùi mẫn, tỉ tê thì hoàn toàn phản tác dụng; ngược lại, ở một khúc ca tự sự cần chiều sâu lắng đọng mà lại ca rổn rảng, đó là biểu hiện của một giọng ca thiếu chiều sâu hoặc chưa đạt tầm.

Mỗi cuộc thi sẽ có những tiêu chí

Hiện tại, sân khấu cải lương đang có khá nhiều sân chơi uy tín để rèn luyện và tuyển chọn những thế hệ kế thừa như: Bông lúa vàng, Chuông vàng vọng cổ, giải Trần Hữu Trang hay Cuộc thi Tài năng Diễn viên Cải lương toàn quốc… Mỗi cuộc thi đều có những tiêu chí chấm điểm riêng biệt (ví như tỷ lệ 30% diễn – 70% ca, hoặc cân bằng 50/50). Tuy nhiên, dưới lăng kính của Tâm Quan Sát, cốt tủy của mọi cuộc thi vẫn luôn là tìm kiếm những thí sinh thực tài, ca hay và diễn tốt, đủ bản lĩnh đảm đương các vai diễn lớn, nhỏ hoặc truyền tải những bài ca ý nghĩa để ban tặng, làm đẹp cho cuộc sống.

Tất nhiên, trên đời không có gì là hoàn hảo tuyệt đối. Nếu nhìn nhận một cách “tạm tương đối”, chúng ta vẫn nên mừng thầm và chấp nhận thực tế rằng phần đông chúng ta đều là “phàm phu” với đầy rẫy hỷ nộ ái ố, đang bước đi trên lộ trình thực tập để hướng lên hiền nhân, tiệm cận thánh nhân và thánh nhân.

Vì tiêu chuẩn cốt tủy vốn rõ ràng như vậy, nên đôi khi có một số nghệ sĩ, đạo diễn, giám khảo hoặc ban tổ chức vì sự cả nể hoặc bị ràng buộc trong một “hệ sinh thái lợi ích” mà cố tình lướt qua. Điều đó biểu hiện rõ nét ở các thực trạng:

  • Thí sinh thiếu hụt về giọng ca sẽ được định hướng chọn những trích đoạn nặng về hình thể, tăng diễn giảm ca nhằm khỏa lấp khuyết điểm cốt lõi.
  • Giám khảo có thế mạnh về nhạc tài tử thì xu hướng thí sinh sẽ tập trung chọn các bài bản thiên về kỹ thuật luyến láy để phù hợp với thiên hướng chuyên môn của vị giám khảo đó.
  • Giám khảo xuất thân từ biên đạo múa thì bài thi của thí sinh sẽ được dàn dựng ngập tràn các yếu tố múa minh họa, vô tình biến không gian cải lương thành một loại hình pha trộn – tạp kỹ.
  • Giám khảo say mê gu “ca mùi” thì đa phần thí sinh sẽ uốn mình định hướng cách ca, cách nhả chữ, thậm chí xử lý dứt câu như một bản sao hoàn hảo của thế hệ đi trước, triệt tiêu hoàn toàn tính độc bản của người nghệ sĩ.

Đó chính là căn nguyên dẫn đến những tiếng “ồn ào”, những tranh chấp và sự mất đoàn kết xuất hiện trước, trong và sau các cuộc thi bấy lâu nay. Tuy nhiên, nhìn nhận một cách định tĩnh, tất cả những áp lực này – từ ban tổ chức, truyền thông, nội bộ ban giám khảo cho đến khán giả – lại chính là một trường đào luyện tuyệt vời. Đó là cơ hội tốt để người làm nghề thực tập sự chính trực, lòng bao dung và tinh thần đoàn kết. Vượt qua được thử thách đó mới chính là món quà tinh sạch nhất để dâng lên Tổ nghề, bởi chúng ta đã góp phần sàng lọc và giữ lại những hạt giống thực sự chất lượng cho sân khấu cải lương mai sau.

Hãy là người tự đốt đuốc lên mà đi

Mọi khía cạnh trong đời sống vốn dĩ luôn hiện hữu sự vận hành của hai chữ “lợi ích”. Khi thấu suốt quy luật khách quan này, chúng ta không còn bị ngoại cảnh dẫn dắt, mà có thể định vị, nhận diện và từng bước chuyển hóa nó một cách định tĩnh.

Trong nghệ thuật sân khấu cải lương cũng vậy, khi người làm nghề – dù ở vai trò nghệ sĩ, giảng viên, đạo diễn hay giám khảo – đã thấu suốt “hồn cốt” của bộ môn nằm ở các giá trị: ca trong diễn, chất giọng độc bản, sự nhập tâm đồng nhất với nhân vật và tiết tháo của tác giả… thì dẫu đứng trước bất kỳ áp lực phe cánh hay danh lợi nào, ta vẫn sáng suốt giữ vững cho mình một tâm thế đúng đắn.

Khi có đủ niềm tin vào sự linh thiêng của Tổ nghề, ta sẽ ngộ ra rằng cách “cúng Tổ” thiết thực và tôn kính nhất không nằm ở lễ vật mâm cao cỗ đầy, mà nằm ở chính lòng bao dung và sự chính trực ta dành cho những hạt giống nghệ thuật thực sự xứng đáng. Đó mới là lúc chúng ta đang nối nghiệp tiền nhân trên con đường chính tông: “Nghệ thuật vì nhân sinh”.

Tâm Quan Sát

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang